Một số điểm mới đáng chú ý trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Ngày 18/6/2020, tại Kỳ họp thứ Chín, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật năm 2020 và Luật năm 2015). Luật năm 2020 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021. Theo đó, Luật năm 2020 đã sửa đổi, bổ sung 68 điều, trong đó có 54 điều khoản về nội dung và 14 điều về kỹ thuật so với Luật năm 2015. Luật năm 2020 có một số điểm mới đáng chú ý như sau:


Thứ nhất
, quy định về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): Luật năm 2020 đã sửa đổi, bổ sung Điều 6 của Luật năm 2015 để quy định về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL. Cụ thể, khoản 2 Điều 6 quy định rõ thời điểm thực hiện phản biện xã hội được thực hiện trong giai đoạn lấy ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và trường hợp dự thảo VBQPPL đã được phản biện xã hội thì hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan có thẩm quyền phải bao gồm văn bản phản biện xã hội. Các cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội và có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến phản biện xã hội khi chỉnh lý dự thảo văn bản.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Điều 18, Điều 25 về một số hình thức VBQPPL: (1) Bổ sung hình thức Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để quy định chi tiết những vấn đề được luật giao hoặc hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; (2) Bổ sung hình thức Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ để quy định về việc phối hợp của các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng và phòng, chống tham nhũng.

Tuy nhiên, cần lưu ý không ban hành Thông tư liên tịch giữa bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Thứ ba, bổ sung quy định về thẩm quyền ban hành VBQPPL của cấp huyện, cấp xã: Sửa đổi, bổ sung Điều 30 của Luật năm 2015: (1) Hội đồng nhân dân cấp huyện ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương; (2) Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao.

Thứ tư, về quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật: Luật đã sửa đổi, bổ sung khoản 4, Điều 14 (những hành vi bị nghiêm cấm) của Luật năm 2015, theo đó bổ sung trường hợp ngoại lệ cho phép quy định thủ tục hành chính trong thông tư, thông tư liên tịch, quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước nếu được “nghị quyết của Quốc hội giao” (Luật năm 2015 chỉ có trường hợp “được luật giao”); địa phương được quy định thủ tục hành chính trong trường hợp cần thiết phải quy định thủ tục hành chính trong Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27.

Thứ năm, Luật năm 2020 sửa đổi, bổ sung các quy định về quy trình lập đề nghị xây dựng và soạn thảo VBQPPL. Theo đó, không quy định việc “xây dựng nội dung của chính sách và đánh giá tác động của chính sách” trong đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 2 điều 19 Luật năm 2015 (nghị định quy định các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước…). Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trong trường hợp này gồm: (1) Tờ trình đề nghị xây dựng nghị định; (2) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định.

Đối với nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 (Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh, tế, quản lý xã hội), quy trình lập đề nghị cơ bản giữ nguyên, chỉ thay cụm từ “đề cương dự thảo nghị định” bằng “dự kiến đề cương chi tiết dự thảo nghị định” và quy định rõ hơn nội dung nghị quyết của Chính phủ về đề nghị xây dựng nghị định phải “nêu rõ các chính sách đã được thông qua”.

Trong quá trình soạn thảo và trình nghị định của Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách trong giai đoạn soạn thảo (bổ sung điểm a1 vào khoản 2 Điều 90 và bổ sung khoản 1a vào Điều 119). Quy định “Báo cáo đánh giá tác động của chính sách” là tài liệu bắt buộc gửi thẩm định, thẩm tra và trình các cơ quan có thẩm quyền (sửa đổi, bổ sung Điều 91, 93, 121, 122 và Điều 124).

Luật năm 2020 cũng bổ sung khoản 2a vào Điều 124, quy định cơ quan thẩm tra không tiến hành thẩm tra dự thảo nghị quyết khi chưa đủ các tài liệu trong hồ sơ hoặc hồ sơ không gửi đúng thời hạn theo quy định. Đồng thời bổ sung nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết về sự cần thiết ban hành nghị quyết quy định tại khoản 2 và 3 Điều 27 của Luật năm 2015.

Thứ sáu, Luật năm 2020 sửa quy định về thời điểm có hiệu lực của VBQPPL.

- Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần VBQPPL được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn:

+ 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành với VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương.

+ 10 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh.

(Luật hiện hành quy định không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh).

+ 07 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã.

(Luật hiện hành quy định không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã).

- VBQPPL ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được:

+ Đăng ngay trên cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành.

+ Đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng.

+ Đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành với VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương;

Hoặc đăng công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh.

(Luật hiện hành quy định đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành).

Thứ bảy, mở rộng thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã.

Theo đó, HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành VBQPPL như sau:

- HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định.

- HĐND cấp xã ban hành nghị quyết, UBND cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao.

(Luật hiện hành chỉ quy định HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao).

Thứ tám, bổ sung một số trường hợp xây dựng, ban hành VBQPPL theo thủ tục rút gọn.

Cụ thể, Luật năm 2020 bổ sung thêm 03 trường hợp xây dựng, ban hành VBQPPL theo thủ tục rút gọn sau:

- Trường hợp cần ban hành ngay VBQPPL để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ VBQPPL trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội.

- Trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần của VBQPPL trong một thời hạn nhất định để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn.

Thứ chín, VBQPPL có thể bị đình chỉ, bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước khác.

VBQPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng VBQPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.

(Luật hiện hành quy định việc đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ VBQPPL phải bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền).

Thứ mười, VBQPPL đã ban hành vẫn có thể tiếp tục áp dụng dù quy định khác với VBQPPL mới.

Cụ thể, trường hợp văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của VBQPPL hiện hành có quy định khác với VBQPPL mới, do cùng một cơ quan ban hành, cần tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong VBQPPL mới đó.

Thứ mười một, bổ sung trách nhiệm của hội đồng dân tộc trong thẩm tra một số dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

Cụ thể, Hội đồng dân tộc có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm tra để bảo đảm chính sách dân tộc khi dự án, dự thảo đó có quy định liên quan đến dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số, miền núi.

Thứ mười hai, không làm phát sinh thủ tục hành chính mới khi sửa VBQPPL đã ban hành trước ngày 01/7/2016.

Theo đó, những quy định về thủ tục hành chính trong VBQPPL do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành VBQPPL 2015 được ban hành trước ngày 01/7/2016 thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới.

Trường hợp sửa đổi, bổ sung VBQPPL có quy định thủ tục hành chính được ban hành trước ngày 01/7/2016 thì không được làm phát sinh thủ tục hành chính mới hoặc quy định thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện, tăng thời gian giải quyết thủ tục hành chính đang áp dụng.

Ngoài ra Luật năm 2020 còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác so với Luật năm 2015 nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của bộ, ngành, địa phương trong thực tiễn xây dựng pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước./.

Lê Thanh Thủy, Vụ Pháp chế (Bộ Nội vụ)

Nguồn: https://tcnn.vn/news/detail/48661/Mot-so-diem-moi-dang-chu-y-trong-Luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-Luat-ban-hanh-van-ban-quy-pham-phap-luat-nam-2015.html

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.